Thế giới quan và viên Red Pill mang tên: Phật Giáo

Từ lâu, sâu trong tâm trí tôi luôn có một “tiếng gọi” thôi thúc tôi đi tìm câu trả lời cho câu hỏi!

“Thế giới này vì đâu mà có?”

“Bản chất thực sự của thế giới là gì?”

“Vì sao con người tồn tại?”

và “Làm gì để cuộc sống này thật sự có ý nghĩa?”

Nhu cầu tìm một “chân lý”, một thế giới quan và nhân sinh quan đó luôn thôi thúc tôi tìm hiểu và khám phá thế giới

Và rồi trong quá trình tìm hiểu về Phật giáo đưa tôi đến một “góc nhìn” thú vị về thế giới xung quanh, mang lại cho tôi một thế giới quan mới mà trong ờ đó mọi sự đều là “vô ngã”, “vô thường” và tính “không”

Tính “Không” là một ý niệm quan trọng trong triết lý Phật giáo

Theo cách tôi hiểu về “Không” tất cả mọi thứ và moị thứ là “Không”, Mọi thứ đều có tính “Không” Sự sinh-diệt và chuyển hoá vô thường, kể cả định nghĩa “Có-Không có” cũng thuộc “không” nên không thể dùng ngôn từ để mổ tả,

“Không có gì” cũng là “một cái gì đó”

Mọi thứ “là nó nhưng lại cũng không phải là nó” rất khó và gần như không thể cắt nghĩa sự hiểu biết này bằng ngôn từ và tôi vẫn tiếp tụ tìm hiểu để làm rõ và sâu sắc thêm thế giới quan này

Ðối với Sư, tính Không có nghĩa là thiếu vắng một cái ngã, không phải là không tồn tại như là một trình hiện (có thể nói: »Tất cả là ảo ảnh không thật, nhưng có những trình hiện có vẻ như thật«). Vì vậy, nếu nói sự vật có hay không là đặt vấn đề sai. Sự thật nằm ở giữa hai khái niệm đó, trong tính Không (s: śūnyatā). Thế giới hiện tượng cũng phải được xem là sự thật, ta gọi là sự thật tương đối (Chân lí quy ước; s: saṃvṛti-satya), nó không phải là sự thật cuối cùng (Chân lí tuyệt đối; s: paramārtha-satya). Trong chân lí quy ước thì thế giới này và cả Phật pháp có giá trị. Theo chân lí tuyệt đối, tất cả chúng đều không có thật, chúng chỉ là những trình hiện. Theo Sư, thế giới hiện tượng xuất phát từ cái dụng thiên hình vạn trạng (đa dạng; s: prapañca), trên đó con người »tưởng tượng« ra và từ đó ta tưởng nhầm có một thế giới bên ngoài thật. Trong chân lí tuyệt đối thì lại vắng bóng cái dụng thiên hình vạn trạng đó. Ðộc lập với cái dụng đó thì chính là Niết-bàn. Trong Niết-bàn vắng hẳn sự đa nguyên của vạn sự, không còn quy luật nhân duyên nữa. Niết-bàn là niềm an vui tự tại (s: sahajānanda). Ðối với Long Thụ – như kinh Bát-nhã chỉ rõ – Niết-bàn và thế giới hiện tượng thật tế chỉ là một, là hai mặt của một cái duy nhất. Niết-bàn không phải là một pháp có thể chứng đắc được; chỉ cần nhận chân ra thể tính của mọi sự, trong đó cái dụng thiên hình vạn trạng nọ trở lại yên nghỉ, đó là Niết-bàn.

Sư Long Thụ

Tìm kiếm (thuvienhoasen.org)

“Như vị Thiền sư hiện đại người Nhật Bạch Vân An Cốc viết thì Phật tính, cũng đồng nghĩa với Pháp tính (sa. dharmatā, ja. hosshō), chính là cái mà người ta gọi trong Đại thừa là tính Không (sa. śūnyatā). Ông phát biểu: “Qua kinh nghiệm giác ngộ—nguồn gốc của tất cả những giáo lý đạo Phật—người ta ngộ được thế giới của tính Không. Thế giới này—chuyển động, không có trọng lượng, vượt mọi cá thể—vượt khỏi trí tưởng tượng của con người. Vì thế nên chúng ta không thể nào hiểu được và cũng không thể nào tìm hiểu được cái tự tính chân thật của vạn vật, cái Phật tính, pháp tính của chúng. Vì tất cả những gì chúng ta có thể tưởng tượng ra được đều phải có màu sắc nên tất cả những gì chúng ta tưởng tượng về Phật tính tất nhiên là sai. Cái người ta có thể tưởng tượng được chỉ là sự phản chiếu của Phật tính—nhưng không phải Phật tính. Nhưng, mặc dù Phật tính không thể diễn bày (Bất khả thuyết), không thể nghĩ bàn (bất khả tư nghị), chúng ta vẫn có thể tỉnh thức, chứng ngộ được nó bởi vì chúng ta bản lai là Phật tính.”” – wikipedia

Tự Tính, “Chỉ cái tính nằm sau mọi hiện tượng, cái ngã. Theo quan điểm Ðại thừa, tất cả mọi sự đều không có tự tính (s: asvabhāva), vô ngã, tức là không có một cái gì chắc thật, riêng biệt đứng đằng sau các trình hiện. Ðiều đó không có nghĩa sự vật không có thật, chúng hiện diện nhưng chúng chỉ là dạng xuất hiện của tính Không, tự tính là tính Không (自性空; Tự tính không; s: svabhāva-śūnyatā). Ðây là quan điểm trung tâm của tư tưởng Bát-nhã ba-la-mật-đa (s: prajñāpāramitā) và Trung quán (s: madhyamaka).
Tuy nhiên, trong Thiền tông và các tông phái của Ðại thừa tại Trung Quốc, biểu thị Tự tính (j: jishō) được dùng để chỉ cho bản thể thật sự của chúng sinh, vạn vật, đồng nghĩa với Phật tính (s: buddhatā; j: busshō) và nên phân biệt nó với cái tiểu Ngã mà Phật đã bác bỏ.”

Ok một góc nhìn khác có thể liên quan đến phật giáo một “tôn giáo” hiện đại hơn…. Khoa Học :))

Read that article: The Big and the Small – Chờ đợi nhưng tại sao (waitbutwhy.com)

Thế giới từ góc nhìn của vũ trụ cho đến thế giới nguyên tử và lượng tử có một tính “không” biểu hiện

Ở thời điểm hiện tại tôi vẫn “đắm chìm trong dòng sông cảm xúc” và phải dùng “chánh niệm” để đạt được nhận thức về “góc nhìn” đó!

Tôi chưa dám nói về sự “giác ngộ” vì việc quan tâm và tò mò đến thế giới quan của Phật giáo không có nghĩa tôi muốn xuất gia đi tu hay trở thành một Phật tử tu tập

Tất cả đơn giản là cuộc truy cầu tri thức

Thậm trí tôi cũng chưa từng thiền định nhưng sẽ thử nó trong tương lai gần. Mọi thứ tôi thấy vẫn còn có chút mơ hồ chưa sáng tỏ như Neo vừa mới uống viên thuốc có tên Phật giáo và choàng tỉnh thoát khỏi ma trận. ( Đừng hiểu nhầm “tôi” không phải là Chosen One hay đấng cứu thế gi đó đâu nhé )

Cái tôi thấy thú vị là thế giới quan này rất sâu sắc và có tác dụng tích cực trong cuộc sống

Nếu có Duyên biết đâu bạn có thể tìm hiểu về góc nhìn Phật giáo qua bài viết này như cách nhân duyên đã đưa bạn đến và đang đọc dòng chữ này vậy

Update

Gần đây có một “sự khó chịu” về sự thay đổi thế giới quan xuất hiện

Tôi sẽ làm gì với tư tưởng mới này? nó có “thật” hay không hay lại là một trò đùa của tâm trí?

Tôi có đang “hiểu sai” và sinh “tà kiến” hay không?

Đạo Phật do Phật tổ Thích Ca chứng ngộ, vậy chắc chắn nó “vô thường” vì Phật cũng là bản thể vô thường, vậy niết bàn phải chăng cũng chỉ là một “ảo tưởng” khác?!?

Nói chung có một vạn câu hỏi nảy sinh và có lẽ cần thời gian và trí tuệ để có thể trả lời hết

Và tôi nghĩ thế này:

Việc nhận ra mọi sự “vô thường” cái “vô ngã” và tính “không” cần một cách tiếp cận trí tuệ và cẩn thận, đừng để mắc tà kiến sai lầm rơi vào “hư vô chủ nghĩa” điều mà sẽ đưa ta đến cái kết luận mọi thứ trên đời đều là giả và vô nghĩa làm ta đánh mất hết ý nghĩa cuộc sống cũng như làm suy đồi thế giới quan

Vì mọi thứ là “không”, là ảo ảnh của “thân tâm” tất cả là “không”, nhưng “không” không có nghĩa là hư vô vì trong không CÓ mọi thứ và mọi thứ là không, và vì “cái ta” vẫn gắn chặt với ngũ uẩn thân tâm trí, nên tuệ giác ta lĩnh hội được phải mang ra ứng dụng vào cuộc sống

Nói cách khác

Việc có đc một góc nhìn mới về bản chất thế giới không phải để thoát ly hoàn toàn thế giới hiện tại ( thế giới “vô thường” dựng lên bởi tâm trí, ngũ uẩn ) mà dùng nó như một công cụ để sống tốt hơn, để diệt khổ, việc có tuệ giác ngộ giúp ta có “con mắt” và “trí tuệ” nhìn thấu suốt mọi sự tìm chân lý tránh vô minh, tìm ra cách làm đúng đắn trong mọi việc

Từ đó làm sâu sắc hơn thế giới quan, nhân sinh quan và phẩm giá con người. Giúp “ta” “sống” một cuộc sống tốt đẹp hơn

Link:

1- Thế giới theo quan điểm Phật Giáo – Phật Học Ứng Dụng – THƯ VIỆN HOA SEN (thuvienhoasen.org)

Theo Kinh Giáo Thọ Ca Chiên Diên, Đức Phật đã nói với tôn giả Ca Diếp: “Nầy ông Ca Diếp! ‘Là’ là một cực đoan, N’không là’ cũng là một cực đoan. Cái được coi là trung đạo thì không thể sờ thấy, không thể so sánh, không nơi chốn, không hiển hiện, không thể giải thích. Ông Ca Diếp, đó chính là trung đạo. Trung đạo là sự cảm nhận Thực Tại.” Những sự cực đoan trở thành những con đường không có lối thoát của chủ thuyết vĩnh hằng và đoạn diệt. Có những người chỉ bám víu vào ‘vô,’ hoặc có những người chỉ bám víu vào ‘hữu.’ Đức Phật đã xử dụng thuyết Trung Đạo để vạch ra chân lý mọi sự vật trên thế giới nầy không phải là ‘hữu’ tuyệt đối, mà cũng không phải là ‘vô’ tuyệt đối. Kỳ thật, mọi vật đều có sanh có diệt, tạo nên sự chuyển hóa liên tục không ngừng. Trung Đạo có nghĩa là thực tại siêu việt đối với những cách lý luận nhị phân của lý trí và thực tại không thể bị hạn định hoặc đóng khung trong những lựa chọn ‘là,’ ‘không là.’

“Này các tỉ-khâu, có hai điều thái quá, người xuất gia không nên theo. Thế nào là hai? một là mê đắm dục lạc, hạ liệt, phàm phu, không xứng Thánh hạnh, không thiệt lợi đạo. Hai là tu khổ hạnh, khổ đau, không xứng Thánh hạnh, không thiệt lợi đạo. Này các tỉ-khâu, chính nhờ từ bỏ hai điều thái quá này, Như Lai giác ngộ trung đạo, con đường đem đến pháp nhãn, trí huệ đưa lại an tịnh, thượng trí, chứng Niết-bàn.Này các tỉ-khâu, Trung đạo do Như Lai giác ngộ, đem đến pháp nhãn, trí huệ đưa lại an tịnh, thượng trí, giác ngộ, Niết-bàn là gì? Chính là Bát chính đạo: chính kiến, chính tư duy, chính ngữ, chính nghiệp, chính mạng, chính tinh tấn, chính niệm, chính định”.

Trung đạo cũng được dùng để chỉ giáo pháp Trung quán của Long Thụ, là môn phái không chấp nhận một đối cực nào của mọi phân cực. Trung đạo ở đây là thái độ từ bỏ hai quan điểm cực đoan thế giới là trường tồn hay hoại diệt, thế giới là có (hữu) hay không có (vô). Trong Trung quán tông, Trung đạo được trình bày rõ nhất với quan điểm tám phủ nhận (bát bất) của Long Thụ:Không diệt, không sinh, không đứt đoạn, không thường còn, không là một, không đa dạng, không đến, không đi

Trong Duy thức tông, Trung đạo được hiểu là vừa không xem sự vật tồn tại thật sự (vì sự vật thực tế không hề tồn tại), vừa cũng không cho rằng sự vật không hề có (vì sự vật tồn tại đối với ảo giác tâm lý). Theo Thiên Thai tông, Trung đạo là sự nhận thức rằng, mọi sự vật trống rỗng, chúng không có một thật thể độc lập, nhưng đồng thời chúng có giá trị nhất định, tạm thời—vì chúng là những trình hiện nên có một thọ mệnh nhất định. Sự tổng hợp giữa tính Không (sa. śūnyatā) và thế giới hiện tượng chính là Trung đạo đích thật—theo tông này.

Share on facebook
Share on twitter
Share on linkedin

Table of Contents