ĐỪNG LÀ AI CẢ (Thiền sư Ajahn Chah)Học trò: Có những người có tâm nguyện trở thành những vị Phật Duyên Giác (pacceka buddha), người tự mình giác ngộ mà không cần có sư thầy chỉ dạy cho mình. Như vậy có được không?Ajahn Chah: Những danh từ đó chỉ là nghĩa ẩn dụ của những trạng thái tâm mà thôi. Trở thành một cái gì là một gánh nặng. Đừng là cái gì!. Đừng là cái gì cả!. Làm một vị Phật là một gánh nặng. Làm một vị Phật Duyên Giác là một gánh nặng. Đừng cầu được thành cái gì. Tôi là ngài A. Tôi là sư thượng tọa. Đó là khổ, cầu muốn là khổ, tin rằng ta thành một ai đó là khổ. “Ngài A”, “thượng tọa” chỉ là quy ước. Ngay cả “tu sĩ” cũng chỉ là một danh từ quy ước.Nếu ta cứ tin ta là cái gì đó, hoặc là ai đó, điều đó chỉ mang lại khổ. Nếu thực sự có một “ngài A”, thì khi có ai chỉ trích “ngài A” sẽ tức giận, khởi tâm sân. Đó là cách sự khổ sẽ xảy ra khi chúng ta cứ chấp lầm cái ‘ta’ hay thứ gì đó là thực, là cố hữu. “Ngài A” bị dính danh (dính tâm) và bắt đầu phản đối này nọ với lời chỉ trích. Nếu không có cái “ngài A”, chẳng có ai bị xúc phạm và phản đối. Không có “ngài A”, chuông điện thoại reo, chẳng ai trả lời điện thoại. Chẳng có ai thì chẳng có ai để trở thành bất cứ cái gì. Không có cái “ta” thì ta chẳng trở thành cái gì. Ta chẳng là ai, chẳng có ai cả, thì chẳng ai chịu khổ vì bất cứ điều gì.Trước kia có một tu sĩ đến trình với tôi (theo thủ tục giới luật) rằng thầy ấy đã chứng đắc thánh quả Nhập Lưu (Tu-đà-hoàn). Tôi chỉ có thể nói rằng “À, vậy là tốt hơn con chó một chút”. [Ở Thái Lan cũng như nhiều nơi khác, việc gọi ai bằng chó là vô lễ và coi thường người ấy]. Thầy ấy không ưa câu nói đó và ngoảnh mặt bỏ đi. Vị thánh Nhập Lưu đã tức giận!. Khi ta nghĩ mình là cái gì đó hay là ai đó, chúng ta luôn phản ứng lại bất cứ chuyện gì; khi nghe chuông điện thoại, ta liền bắt máy và dính líu vào đó. Làm sao chúng ta tránh khỏi điều đó?. Chúng ta phải nhìn rõ vào điều đó và phát triển trí tuệ hiểu biết về nó thì mới không còn cái “ông A” nghe điện thoại. Nếu ta nghe điện thoại và nghĩ mình là “ông A”, ta sẽ dính vào đó và bị khổ. Vì vậy hãy đừng làm “ông A”. Chỉ luôn biết rằng cái tên đó và danh xưng đó chỉ là quy ước.Nói rõ hơn, khi có ai nói ta tốt, đừng nhận. Đừng nghĩ ta tốt. Khi có ai nói ta xấu, đừng phản ứng. Đừng nghĩ ta xấu. Đừng cố là gì cả. Biết rõ điều gì đang xảy ra. Nhưng cũng đừng dính mắc vào sự hiểu biết đó, chỉ cần nghĩ rằng: “Ta là một người nào đó biết tỉnh giác”.Người ta không làm được điều này. Họ chẳng hiểu biết chuyện gì đang xảy ra. Tôi thường ví dụ về trên lầu và dưới lầu. Khi bạn bước xuống từ trên lầu, bạn thấy dưới lầu. Khi bạn đi lên lầu, bạn thấy trên lầu. Khoảng không ở giữa bạn không thấy. Điều đó có nghĩa là không nhìn thấy niết-bàn.Chúng ta nhìn thấy hình thể của mọi thứ, nhưng không nhìn thấy sự dính chấp, sự dính chấp vào trên lầu và dưới lầu. Đó chính là sự trở thành và sự sinh. Chúng ta sống liên tục trở thành thứ gì đó, trong từng giây khắc. Chỗ trống không có sự trở thành là chỗ trống không. Khi chúng ta cố nói cho người khác về chỗ trống không đó thì họ chỉ biết đại khái đó là chỗ “không có gì ở đó”. Nhưng phải tu tập thực sự thì họ sẽ biết được chỗ trống không đó thực sự nghĩa là gì.Chúng ta phụ thuộc vào sự trở thành, vào sự dính chấp, từ khi mới sinh ra. Khi ai đó nói về sự vô ngã (không có cái ta), điều đó nghe quá lạ lùng đối với ta; ta không dễ gì thay đổi cái nhận thức (cố hữu, truyền kiếp) của mình. Do vậy chỉ còn cách là làm cho tâm nhìn thấy điều đó thông qua việc tu tập. Sau đó chúng ta mới có thể tin được điều đó là sự thật, và thừa nhận: “À, vô ngã là điều đúng thực!”.Khi người đời nghĩ “Đây là ta! Đây là của ta!”, họ cảm thấy hạnh phúc. Nhưng khi cái gì “của ta” bị mất, họ khóc than vì nó. Đây chính là cách khổ xảy ra. Đường lối sinh ra khổ là vậy. Chúng ta có thể quan sát điều này. Nếu không có cái ‘ta’ và ‘của ta’, chúng ta sử dụng mọi thứ phương tiện khi đang sống mà không dính mắc vào ý nghĩ chúng là ‘của ta’. Nếu có thứ gì hư hoại hay bị mất, thì đó chỉ là lẽ tự nhiên của vạn vật. Chúng ta không coi đó là thứ “của ta”, hay “của ai” bị mất, và không tiếc nuối, đau khổ vì điều đó. Chúng ta không còn chấp vào cái ‘ta’ hay cái ‘người’ nào nữa.Thói thường người đời sợ sự thay đổi và sự chết. Từ khi mới sinh ra chúng ta đã sợ chết. (Nhưng có thứ gì không thay đổi, và có thứ gì không chết. Thế gian được tạo nên bởi những thứ thay đổi và sinh diệt, làm sao ta trông đợi vcó thứ gì không thay đổi, sinh diệt?). Sự trông đợi đó có hợp lý không?. Giống như cứ đổ nước vào ly mà muốn nó không đầy ly. Nếu bạn cứ đổ, làm sao nó không đầy ly. Tại sao chỉ muốn sinh ra mà không bao giờ chết?. Không có tử thì sao có sinh. Hãy nghĩ về điều đó. Nếu sinh mà không bao giờ chết, liệu điều đó có mang lại hạnh phúc hay không?. Nếu hàng triệu triệu năm ai cũng sinh ra và không bao giờ chết, có lẽ trái đất này đã tồi tệ lắm rồi. Có lẽ đến giờ họ phải ăn đồ thải của nhau và nằm ngủ chồng lên nhau, vì đông quá lấy đâu ra đồ ăn và chỗ để nằm ngủ!. Nếu cứ đổ nước vào ly mà muốn nó không đầy tràn, điều đó trái với lẽ tự nhiên. Do vậy, chúng ta phải bắt đầu suy nghĩ một cách thấu đáo về tất cả mọi sự, mọi sự sống, mọi sự vật. Nếu chúng ta không muốn chết, chúng ta phải chứng ngộ (đạt đến, nhìn thấy, giác ngộ) được sự bất tử, giống như Phật đã chỉ dạy. Bạn có biết ý nghĩa của sự bất-tử của Phật giáo là gì không?Cho dù phải chết, nếu ta có trí tuệ chứng ngộ được sự thật vô-ngã (anatta), thì coi như ta không chết. Không còn chết, không còn sinh—đó là nơi mọi sự (khổ) có thể được chấm dứt. Còn sinh và còn muốn được thụ hưởng khoái lạc và muốn không bao giờ bị chết, thì đó là điều sai lầm và ảo tưởng. Nhưng buồn thay đó lại là cách người đời muốn, do vậy chẳng bao giờ họ hết khổ. Người tu hành thực thụ thì không bị khổ. Người tu hành tàm tạm thì vẫn còn bị khổ, bởi vì họ chưa đi hết được con đường tu tập cần phải đi. Họ chưa chứng ngộ sự bất tử, do vậy họ vẫn còn khổ. Họ vẫn còn bị chết. Họ chưa tránh được vòng sinh tử.Được sinh ra từ bào thai, làm sao chúng ta tránh được cái chết. Ngoài việc giác ngộ được sự thật vô-ngã, không còn cách nào để tránh được cái chết. (Còn cái ‘ta’ là ‘cái ta’ còn chết. Không có cái ‘ta’, không còn ‘ai’ chết nữa). Thực ra ta không chết, nhưng những hiện tượng tùy duyên (các pháp hữu vi, sankhara) luôn bị chuyển hóa theo đường lối tự nhiên của chúng. (Hội đủ duyên thì còn, hết đủ duyên thì tan rã. Bản chất của thân năm uẩn là vậy.)Nhiều người nhìn thấy ai khác mình, họ liền cho rằng người đó khùng. Nhưng người đó không khùng, mà đó là một người tu hành siêng năng. Người đó biết được điều gì là lợi lạc và tránh được khổ đau, theo nhiều cách khác nhau.Khi một người giác ngộ nhìn người phàm thế gian, bậc giác ngộ sẽ thấy họ là người ngu mờ, đáng thương, như con nít không hiểu biết vậy. Khi những kẻ phàm phu nhìn một bậc giác ngộ, họ có thể coi vị ấy là kẻ lạc loài. Do vị ấy chẳng còn quan tâm vào thứ gì (khoái lạc, sung sướng) ở trên đời. Nói cách khác, bậc thánh A-la-hán và kẻ khùng nói trên là giống nhau. Khi người đời nhìn vào một A-la-hán, họ nghĩ rằng đó là ông khùng. Là do, nếu có mắng chửi, ông ấy ấy cũng chẳng quan tâm, ông ta chẳng khác nào một kẻ khùng—nhưng đó là một ‘điên khùng’ đầy tỉnh giác. Kẻ bị chửi mà không phản ứng gì thì thiệt là kẻ điên khùng, vì kẻ đó chẳng biết gì. Người ta nhìn mấy vị A-la-hán cũng thấy giống vậy. Nhưng kẻ khùng thì do trí não điên khùng, còn bậc A-la-hán đơn giản là người đã không còn cái ‘ta’, không còn ngã chấp, không còn thân kiến, không còn quan tâm gì đến cái ‘ta’ và cái ‘của ta’ nào nữa. (Họ không còn chấp cái ‘ta’, nên khi ai chửi họ thì cũng như chửi mây trời mà thôi. Đâu còn cái ‘ta’ nào bị chửi nữa, đâu còn ‘ai’ bị chửi nữa, nên đâu có ‘ai’ mà phản ứng lại với lời chửi mắng). Bề ngoài về hành vi thì kẻ khùng (mất trí) trông giống với bậc A-la-hán (trí tuệ). Nhưng sự tỉnh-giác bên trong và sự nhận thức về mọi thứ là rất khác nhau giữa hai loại người đó.Hãy nghĩ về điều này. Khi có người ta nói điều gì làm bạn tức giận, nhưng bạn buông bỏ, chẳng để ý gì đến nó, họ có thể sẽ cho rằng bạn là đồ khùng. Họ chẳng hiểu gì về điều này. Họ chẳng hiểu được sự thật là chẳng có cái ‘ta’ nào cả. Và đã có những người hiểu thấu được điều đó. Có người đã giác ngộ được điều đó. Họ cần thời gian để hướng vào bên trong mình và tự thân trải nghiệm tính vô thường của mọi sự sống, thì họ mới thực sự trải nghiệm được lẽ thật vô-ngã.Lẽ Sinh Diệt, Lý Tu Hành (Ajahn Chahn)Lê Kim Kha dich sang lời Việt

Chủ nghĩa hoàn hảo không giống với việc luôn cố gắng để làm cho mọi thứ trở nên tốt nhất có thể.

Chủ nghĩa hoàn hảo là niềm tin rằng nếu chúng ta có cuộc sống hoàn hảo, có vẻ ngoài hoàn hảo và hành động hoàn hảo thì ta có thể giảm thiểu hoặc tránh được nỗi đau của sự đánh giá, sự trách móc và xấu hổ.

Nó là một lá chắn, Một tấm khiên nặng 20 tấn mà ta mang theo và nghĩ rằng nó sẽ bảo vệ ta nhưng thực ra nó lại là thứ kìm hãm chúng ta

– Brene Brown

Perfectionism is not the way, It’s in the way.

“Tôi nghĩ chủ nghĩa hoàn hảo dựa trên niềm tin ám ảnh rằng nếu bạn chạy một cách cẩn thận, đặt từng bước đà đúng thời điểm bạn sẽ không phải chết

Nhưng sự thật là ai cũng phải chết và có nhiều người chạy mà chả cần nhìn vào chân của họ đang làm tốt hơn bạn và có nhiều niềm vui hơn khi họ làm điều đó”

– Anne Lamott

Chủ nghĩa hoàn hảo có thể tác động đến chúng ta trong ba giai đoạn hành động

Before Task – Trước khi bắt đầu một công việc

Trước một dự án chụp hình bạn hình dung trước công việc và các bức ảnh bạn sẽ chụp sẽ diễn ra như thế nào và kết quả tuyệt vời của ý tưởng kỳ vọng bạn sẽ đạt được.

Nhưng bạn sẽ luôn đợi để có thể có một bắt đầu hoàn hảo, thời tiết hoàn hảo, người mẫu hoàn hảo, có thật nhiều thời gian, chuẩn bị sẵn sáng mọi thứ…vv và nó dẫn đến sự trì hoàn của việc bắt đầu.

During the Task – Trong quá trình

Bạn đã có thể bắt đầu dự án.

Tuy nhiên ngay khi bắt đầu chụp bức đầu tiên bạn sẽ thấy nó không như kỳ vọng của bạn, sự hoàn hảo trong tưởng tượng tan vỡ chỉ bởi đơn giản bạn không thể làm tốt 100% ngay ở bước đầu tiên của quá trình. Nó xấu xí và không hoàn hảo vì nó đang trong quá trình để hoàn thiện.

Nhưng tâm lý chủ nghĩa hoàn hảo mang vấn đề cho bạn, bạn có thể chán, bạn không muốn tiếp tục nó bạn trì hoãn hoặc thậm trí bỏ quách cái dự án này đi và làm cái khác…

After the task – Sau đó thì sao

Bạn đã hoàn thành dự án, nhưng bạn bắt đầu tự đánh giá chính mình nhưng thay vì nhìn nhận thành quả một cách toàn diện có cả ưu nhược điểm bạn có xu hướng “bới lông tìm vết” và chỉ nhìn vào mặt tiêu cực. Giống như việc chỉ nhìn vào chấm đen trên tờ giấy trắng.

Và bằng việc “áp dụng chủ nghĩa hoàn hảo” bãn sẽ rất khó để hài lòng với bất cứ điều gì

Chủ nghĩa hoàn hảo đến từ đâu

Chủ nghĩa hoàn hảo đến từ sự xấu hổ và ngại ngùng

Chủ nghĩa hoàn hảo đến từ hệ giá trị cho rằng bạn chỉ xứng đáng khi bạn có thể hoàn thành và làm tốt một điều gì đó nếu không bạn sẽ bị đánh giá, bị phạt hoặc chịu cảm giác xấu hổ

Trong nền giáo dục của chúng ta hiện nay khi mọi thứ chạy theo điểm số, kết quả, kiểu kiểm tra miệng, kiểu xếp hạng học sinh trong lớp, cơ chế khen thưởng, trách phạt đều có khả năng đưa đến tiêu cực của chủ nghĩa hoàn hảo và ta cần nhận rõ điều này trong ta nếu có

Cách ta hạn chế mặt tiêu cực của chủ nghĩa hoàn hảo

Hãy hạ thấp kỳ vọng của bạn, bạn không cần làm mọi thứ 100% hoàn hảo theo cách bạn kỳ vọng, hãy có thể bằng lòng với 70%, 80% và sau đó có thể bạn sẽ trau chuốt nó để hoàn thiện nó hơn. Điều này khiến bạn có thể bắt đầu và hoàn thành được nhiều dự án hơn.

Suy nghĩ về hệ giá trị con người của bạn đưa vào đó các giá trị lành mạnh, Bạn xứng đáng dù bạn không phải là một con người hoàn hảo hay làm mọi thứ đều tuyệt vời, có cuộc sống hay thân hình đáng mơ ước…vv

Có cái nhìn công bằng hơn vào mặt tích cực của vấn đề, ví dụ dù bạn muốn chạy bộ mỗi ngày nhưng sẽ có những ngày bất khả kháng bạn phải gián đoạn và đứt gãy chuỗi thành tích của bạn thay vì chỉ tập trung vào những ngày bạn đã bỏ lỡ tập luyện và chán nản hãy quay lại chuỗi duy trì và nghĩ về số ngày bạn đã có thể duy trì nó thành công…vv

Nhìn vào mặt tích cực của vấn đề và chấp nhận sự thật rằng hoàn hảo chỉ là một ảo ảnh của tâm trí một lý do, một lá chắn và liều thuốc tinh thần và trên đời vốn dĩ chẳng có cái quái gì là hoàn hảo. ok?

Cách để làm việc?

“The Best way to do the the work you want to do is to have a practice and to show up and do the work regardless of how the world around us and we are feeling”

Seth Godin

Tạm dịch ” Cách tốt nhất để làm những việc bạn muốn làm là hãy luyện tập và đưa các sản phẩm ra công chúng mặc kệ thế giới nghĩ gì và kể cả cảm xúc của ta về nó”

Luyện tập, luyện tập và luyện tập luôn coi mình là kẻ nghiệp dư và đưa sản phẩm ý tưởng của mình ra, chia sẻ các ý tưởng và những điều mình học được đó là cách để ta tiến lên!

Làm việc như một kẻ chuyên nghiệp?

“Do what you love is for amateurs love what you do is mantra for professionals”

Seth Godin

Theo mình hiểu nếu bạn làm những việc bạn thích nó quá dễ dàng và không có gì để bàn, tất nhiên nó cũng không có gì là sai cả. Nhưng nếu chỉ làm những việc mình thích thì ta vẫn rất amateurs :))

Khi bạn thật sự chuyên nghiệp và làm việc có cam kết bạn “love what you do” nghĩa là ta làm việc và đạt được trạng thái “flow” trạng thái tập trung cao và lúc đó ta có cảm giác thỏa mãn và yêu việc mình làm ( dù việc ấy không hễ dễ dàng để bắt đầu so với việc bạn “love” )

Và khi bạn bắt đầu hành động, bắt đầu Take Action! bạn vào guồng, bạn vào “flow”

Bạn không làm khi bạn có cảm hứng hay có động lực mà chính hành động sẽ tạo ra động lực để bạn có cảm hứng tiếp tục làm việc, như việc lăn cầu tuyết vậy

Work > Movative > Work > Movative > … it’s Professional Style

“Creativity is an action not a feeling your work is too important to be left to how you feel today”

Seth Godin
  • Hạnh động của bạn định nghĩa căn tính của bạn ( Nếu bạn là một runner bạn phải chạy )
  • Bạn đặt ra cam kết và mức độ hành động thói quen thực hành tùy thuộc vào khả năng của bạn ( nhận biết giới hạn của bản thân )

Không phải lúc nào “ăn chắc” thì mới tự tin làm gì đó

  • “Confidence isn’t the same as trusting the process”
  • Hãy tưởng tượng chúng ta đi học và làm bài kiểm tra! tại sao ta đánh đổi thời gian và cuộc sống để làm bài kiểm tra về những sự thật đã được công nhận chỉ để lấy điểm 10? Có phải vì đó là tất cả những gì ta hướng đến: Điểm Số và Kết Quả. Ta làm thế để làm gì? nó có ích gì hay vì đó là cách xã hội và nền kinh tế công nghiệp vận hành ( ta nhét vào input > output ) để đánh giá con người dựa trên điểm số của kết quả đầu ra?
  • Điều này có thể dẫn đến việc “nếu ta không chắc chắn vào kết quả và lợi ích đạt được của việc ta muốn làm, ta có khả năng không làm điều đó”
  • Nên người ta luôn muốn được chỉ ra rằng tôi sẽ đạt được gì nếu tôi làm việc này? vì thế có đầy người copy người khác trên internet vì họ nhìn thấy rõ ràng các “bằng chứng” kết quả người khác đã đạt được

Ở một góc nhìn khác, giống như cách tôi viết blog này, có những việc đáng làm kể cả khi nó có thể sẽ không hiệu quả và không thành công

Nó đáng làm vì ta tận hưởng quá trình ta làm nó, cách mà ta cảm nhận nỗ lực của việc làm việc ( cảm giác như thiền định ) và cả cơ hội rằng: bằng một cách nào đó nó có thể ‘chạm’ đến một ai đó khác và giúp ích được một chút gì đó. Và tất cả những điều trên khiến nó đáng để làm kể cả khi nó không hiệu quả ( theo cách ta kỳ vọng ) thì tôi vẫn vui vì đã làm điều này.

Vậy sự tự tin thường có nghĩa là bạn chắc chắn về thành công và hiệu quả của việc bạn làm. Kiểu búa đập trứng thì chắc chắn trứng vỡ. Nhưng nếu như tôi là một người lãnh đạo, một người chụp ảnh hay làm nghệ thuật, tôi không có cách nào chắc chắn một ý kiến, một bức ảnh tôi show ra sẽ được mọi người thích hay không vì đó mang tính cảm tính và nghệ thuật làm sao tôi có khả năng tự tin trong hoàn cảnh này?

Một giải pháp là ta phải tin vào chính bản thân mình rằng nó sẽ thành công. Hay ta áp dụng hội chứng mạo danh ta tin tưởng nó thành công dù có thẻ nó sẽ không thành công nhưng cách bạn làm sẽ tốt hơn là không hành động

Hoặc một cách tôi cảm thấy có hiệu quả là áp dụng thiền và việc nhận ra rằng việc đó dù có thành công hay thất bại cũng chẳng sao :))

Hãy hào phóng thông minh

Nó có thể là điều hào phóng nhất bạn từng làm khi bạn làm ai đó thất vọng trong ngắn hạn

  • Hào phóng không có nghĩa là miễn phí, Không có nghĩa là nói Yes.
  • Hào phóng là bạn dồn tâm sức và nỗ lực để làm một điều gì đó tốt đẹp hơn cho một ai đó khác không phải là bạn mà không mong chờ rằng bạn sẽ nhận lại được một điều gì đó mà chỉ đơn giản là vì bạn có thể
  • Chúng ta thường thể hiện nó bằng cách nói có với những việc nhỏ mọi lúc nhưng đôi khi ta cần hi sinh nó và say No cho những sự hao phóng lớn và đáng làm hơn
  • Chia sẻ và hào phóng cho đi là cách ta học và luyện tập một thứ gì đó, nó đánh bại sự trì hoãn làm việc bằng cách hướng việc ta làm vào mục đích giúp cho một ai đó khác
  • Không ai muốn chịu áp lực phải trở nên hối hả cập rập. Có những người dễ dàng lên tiếng thay cho người khác hơn là cho chính bản thân họ vì nó có cảm giác như chúng ta đang thấu hiểu. Vậy làm cách nào để ta tận dụng điều đó để làm cho mình trở nên hiệu quả hơn và câu trả lời là hãy làm việc mà ta nghĩ nó sẽ có ích cho người khác, có thể giúp họ tốt lên và nếu ta không làm việc này nghĩa là ta đang chỉ nhận, ta như một tên trộm. Thử thách đặt ra là làm thế nào ta hành động như một nhân viên cứu hộ thay vì là một tên trộm, nhân viên cứu hộ không nhảy xuống hồ bơi cứu người vì để thành anh hùng họ nhảy xuống đó chỉ vì để cứu người.
  • Đây không phải là cuộc đua để trở nên nổi tiếng hay để kiếm trác mà là cuộc đua vì sự đóng góp.

Tôi nghĩ ý nghĩa của cuộc sống nằm ở việc ta trải nghiệm cuộc sống và giúp đỡ người khác, nếu việc ta làm có thể mang lại cho ai đó điều gì đó có ích thì việc đó có ý nghĩa!

What’s it for and Who’s it for?

Các tốt nhất để bắt đầu bất cứ việc gì? hãy tự hỏi điều này làm với mục đích gì? và nó dành cho ai?

Việc liên tục đặt câu hỏi What, Who, When, Where có thể là một cách nghiên cứu vấn đề hiệu quả

Reference Youtube:

Trì hoãn là gì?

ok xin chào bạn mình là Quân.. ah mà từ từ mình xin năm phút để lướt YouTube đã nhé…

…..

Ok Lại là mình đây …………. và giống như cái cách mà blog/video này được thực hiện, Nếu bạn tò mò thì tôi lên kế hoạch từ thứ sáu tuần trước, Và tự hữa sẽ ra video  7 ngày, vì rất hào hứng với ý tưởng về serial này nên hôm sau tôi đã viết kịch bản luôn, quay phim vào thứ hai sau đó thì làm hậu kỳ vào thứ ba cuối cùng đăng blog/video vào thứ 4.

Amazing planing right? nhưng rốt cuộc sự thật là tôi làm Tất Cả công việc trên vào… sáng ngày thứ 6.

Như bạn thấy đấy tôi không phải là bậc thầy về năng xuất đâu tôi chỉ đơn giản là một kẻ trì hoãn mãn tính

Ok vậy trì hoãn là gì vậy trời? trì hoãn chắc chắn là TrìHoãn rồi :)) Trì là kiểu trầy, cối rất ư lì lợm còn hoãn thì ai cũng hiểu rồi nhỉ “Để Mai Tính” :)) ( Joking )

hoặc có một định nghĩa lê thê mà đau đớn hơn như sau:

“Tôi biết mình phải làm gì. Tôi hiểu rõ những ích lợi của việc đó. Tôi cũng biết những hậu quả tiêu cực nếu mình không làm nó. Tôi có đủ năng lực và công cụ để thực hiện công việc. Nhưng tôi vẫn không làm” – wikipedia

Nghe có chán không! vô lý cùng cực! thế mà nó vẫn cứ xảy ra hết lần này đến lần khác và mỗi khi điều đó xảy ra thì tôi sẽ có một cái suy nghĩ kiểu như thế này vào cuối ngày:

“Shit! mình đã làm cái quái gì vậy trời??”

hoặc “Làm một cái Project cả mấy năm không xong?!? Tôi là một thằng thất bại!?”

Nói chung là một cảm giác cực kỳ tội lỗi và đầy lo lắng vậy thì..

What’s happen???

Để hiểu điều gì xảy ra khi tôi trì hoãn thì tôi chưa thấy có bài viết nào hay hơn bài viết của Tim Urban – Why Procrastinators Procrastinate* và dựa trên ý tưởng rất hài hước và gần gũi của anh tôi có thể mô tả sự việc diễn ra như sau:

Trong con người tôi có bản thể, một tâm trí quyết định khôn ngoan, Minh mẫn. Khi bạn không trì hoãn bạn hoàn toàn làm chủ bánh lái cuộc sốnghành động của bạn, nhưng trong tâm trí của bạn cũng luôn có một “thú cưng”, Một con khỉ 🐵, ( mấy con này ở bách thú nhiều lắm đó ) con khỉ này có tên Sự vui thú tức thời, hay Vô Minh và nó chỉ quan tâm đến một thứ duy nhất là hiện tại và ham muốn được cảm thấy dễ chịu, vui vẻ, sung sướng, chill chill

 

Ngay sau khi tôi ngồi xuống bàn làm việc, uống một ngụm cafe, nói với con khỉ

“Ê khỉ đáng yêu, chúng ta cùng bắt đầu một ngày làm việc thật sự hiệu quả nào! Hãy lên kế hoạch kinh doanh hoặc viết kịch bản cho video tiếp theo nhé”

Con khỉ trả lời “Ơ mấy dình, gút chóp bóts”! “Thật tuẹt vời”, Nói xong nó bắt đầu đá đít tôi khỏi tay lái cuộc sống và bắt đầu giành quyền điều khiển giúp tay tôi click chuột mở YouTube xem video về vũ trụ, vào Facebook xem có bao nhiêu lịke, Lướt Tiktok vào Kenh14 hóng hớt hay thậm chí là bắt đầu xem các video về chủ để chống lại sự trì hoãn để lấy cảm hứng làm việc, Hãy dùng sự trì hoãn chống lại sự trì hoãn nào =))

 

Và sau một lúc tôi nhìn đồng hồ lúc này đã là 5.30 pm hoặc 6.00 pm xuống ăn cơm tối, rửa đít cho con và… một ngày đã trôi qua! Và nó cứ lặp đi lặp lại lặp đi lặp lại…OMG

Vấn rồi vấn đề ở đây thật sự là cũng không phải là tại con khỉ, ai lại không muốn được thỏa mãn được vui vẻ cơ chứ? Vậy vấn đề là gì?

Tôi nghĩ về cơ bản cuộc sống được phân chia thành Hai Thế Giới ( Nghe bài này của Wowy bạn hiểu ngay )

Một bên là thế giới hiện tại bạn đang sống, hay hoàn cảnh hiện tại của bạn và bên kia là một thế giới bạn nơi tràn đầy những dự định và những ước muốn của bạn, thế giới mà con người của bạn muốn trở thành trong tương lai.

Và để đi từ thế giới này sang thế giới mong ước đấy thì bạn cần làm rất nhiều việc và tất nhiên không phải việc nào cũng dễ dàng vì chúng ta sẽ gặp một thứ gọi là lực phản kháng, một loại lực ma xát, một thứ muốn mọi việc kiểu “Ê ở đâu thì hãy ở yên chỗ đó đi cưng!”

Và khi tôi mong muốn làm những công việc khó khăn, đòi hỏi nhiều năng lượng và đôi khi phải chịu đau đớn trong ngắn hạn này để đạt đến một mục đích có ý nghĩa hơn trong tương lai, Hay nói cách khác là những công việc  quan trọng và cần thiết thì lực phản kháng sẽ sinh ra sự lo lắng và việc trì hoãn chính là một cơ chế, một liều thuốc để đối phó với sự lo lắng này

Việc lạm dụng thuốc này dẫn đến việc làm ta tốn rất nhiều thời gian vào những công việc dễ dàng và vui vẻ thay vì làm việc chúng ta thật sự cần phải làm để đưa ta đến mục đích có ý nghĩa và chúng ta lấn sâu vào một nơi gọi là Sân chơi tăm tối :))

Tất nhiên là sân chơi nên nó đầy ấp các trò chơi thú vị tuy nhiên sự thật là các trò chơi này không thú vị lâu như bạn tưởng vì nó xảy ra không đúng lúc nên cuối cùng cái chúng ta nhận được lại là cảm giác tội lỗi, sợ hãi, lo lắng và mặc cảm của việc trì hoãn mang lại, như thể không phải chúng ta không thể thực hiện ước mơ mà ta mãi không thể bắt đầu theo đuổi nó.

Nguy hiểm hơn là khi sự trì hoãn còn có khả năng nguỵ trang tài tình, nó đưa tôi đến một cái bẫy là “đối phó tạm thời” hay nói cách khác “làm như không làm” đấy là khi tôi liên tục làm những việc tưởng như quan trọng và hướng đến mục tiêu nhưng đó không phải là một “hành động thực sự có tính thay đổi” mà chỉ đơn giản là hoạt động nghiên cứu và lên kế hoạch bên lề và tôi đánh lừa mình bằng cách kéo dài khâu chuẩn bị ra một cách lê thê

https://2.bp.blogspot.com/-O5AMv0YQtp0/Upvh01cqxrI/AAAAAAAAGbk/y--K1EAAmTo/s640/Dark+Playground+people.png

Nhưng rất may là con khỉ trì hoãn rất sợ một con quái vật mang tên Dead-Line và khi bạn nhận ra là Deadline dí sát đít thì con quái vật này bắt đầu xuất hiện nó “khè hơi thở nguyên tử” tung chiêu “sếp chửi” “khách chửi” và “cô giáo tét đít” hay “bố mẹ phát điên” khiến con khỉ và cả chính bạn chết khiếp thì lúc này bạn thật sự có thể bắt đầu vào công việc rồi.

Bạn nghĩ con quái vật Deadline này thật là tuyệt vời một thiên thần hộ mệnh dù bạn có trì hoãn và dù con khỉ có quậy phá trong ngắn hạn thì rồi cuối cùng “ok, mọi việc cũng sẽ ổn!” nhưng câu chuyện chỉ thật sự buồn là khi bạn nhận ra bạn phải đối diện với những việc ở trong đời không hề có Deadline như việc tập thể dục, lập gia đình, bắt đầu dự án bạn đam mê, viết blog, là một nhà khởi nghiệp hay là một Freelance Photographer, lúc này bạn là chủ của chính bạn, bạn không có deadline việc bạn trì hoãn sẽ không gây ra một hậu quả tức thời nào trong tương lai gần, Và nếu chỉ dựa vào nỗi sợ Deadline thì điều này sẽ khiến bạn kéo dài sự trì hoãn gần như vô tận và nhiều lúc bạn sẽ cảm tưởng như mình đang đứng ngoài mà nhìn cuộc đời mình trôi đi và điều này mang đến cho bạn sự lo lắng và tự trách bản thân khủng khiếp..

Cuối cùng tôi nghĩ ai trong chúng ta cũng là người trì hoãn ở một mức độ nào đó và việc lo lắng hay cảm thấy sợ hãi và tự trách bản thân về việc này không tệ như bạn tưởng! Nó chỉ đơn giản là đang cố cho ta thấy một tín hiệu để ta có thể thay đổi, rằng có một điều gì đó không ổn mà ta cần giải quyết để tốt lên.

Trong các video tiếp theo tôi sẽ đào sâu hơn nữa về chủ đề trì hoãn, về productivity và đặc biệt là cách để chúng ta có thể vượt qua nó và tìm lại sự an bình trong cuộc sống hẹn gặp lại các bạn!

Xin chào

Link ref:

https://waitbutwhy.com/2013/10/why-procrastinators-procrastinate.html

https://www.youtube.com/watch?v=rgfiZB5EudA

https://www.youtube.com/watch?v=arj7oStGLkU

Đây là ý tưởng của tôi:

Khi Neo ra khỏi Ma Trận nếu anh ấy hỏi Trinity hay Morpheus

“Đây có phải là một Matrix khác hay không?”

Câu trả lời là gì?

Ok, Ở blog trước tôi có tìm hiểu về “thế giới quan” của đạo Phật và không phủ nhận nó có ấn tượng rất mạnh với tôi! nó giúp tôi “ngộ” ra một thế giới quan mới và điều này dẫn đến… “một sự khó chịu” hay gọi cách khác to tát hơn đi một tâm trạng “hoang mang và khủng hoảng” như khi Nietzsche đọc trước tác của Schopenhauer

Tôi sẽ làm gì với “nhãn quan” mới này? nó có “thật” hay không hay lại là một trò đùa của tâm trí?

Tôi có đang “hiểu sai” và sinh “tà kiến” hay không?

Nếu thế giới tôi đang thấy là “ảo ảnh” của thân tâm, một matrix của bộ não thì cuộc sống mang ý nghĩa gì?

Đạo Phật do đạo sư Thích Ca chứng ngộ, một con người trần tục, vậy nó có “vô thường”?phải chăng cũng chỉ là một “ảo tưởng” khác?!?

…vv

Nói chung có rất nhiều câu hỏi nảy sinh xoay quanh và có lẽ cần thời gian tìm tòi và trí tuệ để có thể trả lời hết, hi vọng tôi có duyên tìm được câu trả lời

Nhưng tựu chung lại với kiến thức ít ỏi của mình thì tôi nghĩ thế này:

Việc “Giác Ngộ” hay nhận ra “Bản Chất Thực” của thế giới dù đúng hay sai hay dù bằng bất kỳ tư tưởng hay tôn giáo nào sẽ vẫn chỉ là một công cụ tinh thần ( nếu sau khi ngộ đạo bạn không thể hoá thân mọc cánh thành siêu nhân và thoát ra khỏi thực tại bị giam hãm bởi những hạn chế cố hữu của thân xác “con người” ), cái bạn có cuối cùng cũng chỉ là “một cách nghĩ”, một công cụ tinh thần, một năng lực tâm trí và nó chỉ quan trọng khi sử dụng được nó vào mục đích: “Sống”

Về thế giới quan của Phật Giáo

Thế giới là “Không”, tuỳ “Duyên” mà hợp mọi sự “Vô thường” nằm trong “Luân hồi” biến chuyển không ngừng từng sát na!

Việc thoát khỏi “luân hồi”, tái sinh các cõi,thiên đàng, địa ngục, phải chăng tất cả chỉ là những “ẩn dụ cổ xưa” và bị ” thận thoại hoá”,”tam sao thất bản”?

Tôi cho rằng “Niết Bàn” và “Giải thoát” có thể đạt tới ngay trong hiện tại và ngay bây giờ, Khái niệm “Thiên đàng, địa ngục” cũng đang hiện hữu ở hiện tại chứ ko hẳn phải sau khi ta chết!?

Việc nhận ra mọi sự “vô thường” cái “vô ngã” và tính “không” cần một cách tiếp cận trí tuệ và cẩn thận, đừng để mắc sai lầm rơi vào “hư vô chủ nghĩa” điều mà sẽ đưa ta đến cái kết luận mọi thứ trên đời đều là “giả” là “ảo ảnh” và vô nghĩa dẫn đến chán trường yếm thế và làm ta đánh mất hết ý nghĩa cuộc sống cũng như làm suy đồi nhân sinh quan, thế giới quan

Vì “cái ta” vẫn gắn chặt với ngũ uẩn thân tâm trí, nên tuệ giác ta lĩnh hội được phải mang ra ứng dụng được vào cuộc sống hiện tại ở ngay “kiếp” này chứ không phải bất kỳ “kiếp” vị lai nào khác

Nói cách khác

Việc có được một góc nhìn mới về “bản chất thế giới” không được phép gây cho con người tâm lý chán trường và thoát ly thế giới hiện tại ( thế giới “vô thường” dựng lên bởi tâm trí và ngũ uẩn, theo giáo lý phật giáo ) để truy cầu bất kỳ điều gì ở “kiếp sau”, mà hãy dùng nó như Một Công Cụ Tinh Thần để SỐNG tốt hơn, để diệt trừ khổ và cảm xúc tiêu cực khi ta cần, việc có tuệ giác này có thể giúp ta có thêm “góc nhìn khác” để tiếp cận các sự vật và hiện tượng của cuộc sống.Từ đó làm sâu sắc hơn thế giới quan, nhân sinh quan và phẩm giá con người. Giúp “ta” “sống” một cuộc sống thực tại tốt đẹp hơn!

Chốt lại

Nếu ta đã ra khỏi ma trận và nhận ra ở đó không có gia đình của mình với những bữa ăn ngon thì thật chả có tích sự gì, ta hãy quay lại và order pizzza ăn cùng cả nhà. Chiếc điện thoại có thể rung bất cứ khi nào ta muốn

TÔI

What doesn’t kill you, makes you stronger

Friedrich Nietzsche

Từ lâu, sâu trong tâm trí tôi luôn có một “tiếng gọi” thôi thúc tôi đi tìm câu trả lời cho câu hỏi!

“Thế giới này vì đâu mà có?”

“Bản chất thực sự của thế giới là gì?”

“Vì sao con người tồn tại?”

và “Làm gì để cuộc sống này thật sự có ý nghĩa?”

Nhu cầu tìm một “chân lý”, một thế giới quan và nhân sinh quan đó luôn thôi thúc tôi tìm hiểu và khám phá thế giới

Và rồi trong quá trình tìm hiểu về Phật giáo đưa tôi đến một “góc nhìn” thú vị về thế giới xung quanh, mang lại cho tôi một thế giới quan mới mà trong ờ đó mọi sự đều là “vô ngã”, “vô thường” và tính “không”

Tính “Không” là một ý niệm quan trọng trong triết lý Phật giáo

Theo cách tôi hiểu về “Không” tất cả mọi thứ và moị thứ là “Không”, Mọi thứ đều có tính “Không” Sự sinh-diệt và chuyển hoá vô thường, kể cả định nghĩa “Có-Không có” cũng thuộc “không” nên không thể dùng ngôn từ để mổ tả,

“Không có gì” cũng là “một cái gì đó”

Mọi thứ “là nó nhưng lại cũng không phải là nó” rất khó và gần như không thể cắt nghĩa sự hiểu biết này bằng ngôn từ và tôi vẫn tiếp tụ tìm hiểu để làm rõ và sâu sắc thêm thế giới quan này

Ðối với Sư, tính Không có nghĩa là thiếu vắng một cái ngã, không phải là không tồn tại như là một trình hiện (có thể nói: »Tất cả là ảo ảnh không thật, nhưng có những trình hiện có vẻ như thật«). Vì vậy, nếu nói sự vật có hay không là đặt vấn đề sai. Sự thật nằm ở giữa hai khái niệm đó, trong tính Không (s: śūnyatā). Thế giới hiện tượng cũng phải được xem là sự thật, ta gọi là sự thật tương đối (Chân lí quy ước; s: saṃvṛti-satya), nó không phải là sự thật cuối cùng (Chân lí tuyệt đối; s: paramārtha-satya). Trong chân lí quy ước thì thế giới này và cả Phật pháp có giá trị. Theo chân lí tuyệt đối, tất cả chúng đều không có thật, chúng chỉ là những trình hiện. Theo Sư, thế giới hiện tượng xuất phát từ cái dụng thiên hình vạn trạng (đa dạng; s: prapañca), trên đó con người »tưởng tượng« ra và từ đó ta tưởng nhầm có một thế giới bên ngoài thật. Trong chân lí tuyệt đối thì lại vắng bóng cái dụng thiên hình vạn trạng đó. Ðộc lập với cái dụng đó thì chính là Niết-bàn. Trong Niết-bàn vắng hẳn sự đa nguyên của vạn sự, không còn quy luật nhân duyên nữa. Niết-bàn là niềm an vui tự tại (s: sahajānanda). Ðối với Long Thụ – như kinh Bát-nhã chỉ rõ – Niết-bàn và thế giới hiện tượng thật tế chỉ là một, là hai mặt của một cái duy nhất. Niết-bàn không phải là một pháp có thể chứng đắc được; chỉ cần nhận chân ra thể tính của mọi sự, trong đó cái dụng thiên hình vạn trạng nọ trở lại yên nghỉ, đó là Niết-bàn.

Sư Long Thụ

Tìm kiếm (thuvienhoasen.org)

“Như vị Thiền sư hiện đại người Nhật Bạch Vân An Cốc viết thì Phật tính, cũng đồng nghĩa với Pháp tính (sa. dharmatā, ja. hosshō), chính là cái mà người ta gọi trong Đại thừa là tính Không (sa. śūnyatā). Ông phát biểu: “Qua kinh nghiệm giác ngộ—nguồn gốc của tất cả những giáo lý đạo Phật—người ta ngộ được thế giới của tính Không. Thế giới này—chuyển động, không có trọng lượng, vượt mọi cá thể—vượt khỏi trí tưởng tượng của con người. Vì thế nên chúng ta không thể nào hiểu được và cũng không thể nào tìm hiểu được cái tự tính chân thật của vạn vật, cái Phật tính, pháp tính của chúng. Vì tất cả những gì chúng ta có thể tưởng tượng ra được đều phải có màu sắc nên tất cả những gì chúng ta tưởng tượng về Phật tính tất nhiên là sai. Cái người ta có thể tưởng tượng được chỉ là sự phản chiếu của Phật tính—nhưng không phải Phật tính. Nhưng, mặc dù Phật tính không thể diễn bày (Bất khả thuyết), không thể nghĩ bàn (bất khả tư nghị), chúng ta vẫn có thể tỉnh thức, chứng ngộ được nó bởi vì chúng ta bản lai là Phật tính.”” – wikipedia

Tự Tính, “Chỉ cái tính nằm sau mọi hiện tượng, cái ngã. Theo quan điểm Ðại thừa, tất cả mọi sự đều không có tự tính (s: asvabhāva), vô ngã, tức là không có một cái gì chắc thật, riêng biệt đứng đằng sau các trình hiện. Ðiều đó không có nghĩa sự vật không có thật, chúng hiện diện nhưng chúng chỉ là dạng xuất hiện của tính Không, tự tính là tính Không (自性空; Tự tính không; s: svabhāva-śūnyatā). Ðây là quan điểm trung tâm của tư tưởng Bát-nhã ba-la-mật-đa (s: prajñāpāramitā) và Trung quán (s: madhyamaka).
Tuy nhiên, trong Thiền tông và các tông phái của Ðại thừa tại Trung Quốc, biểu thị Tự tính (j: jishō) được dùng để chỉ cho bản thể thật sự của chúng sinh, vạn vật, đồng nghĩa với Phật tính (s: buddhatā; j: busshō) và nên phân biệt nó với cái tiểu Ngã mà Phật đã bác bỏ.”

Ok một góc nhìn khác có thể liên quan đến phật giáo một “tôn giáo” hiện đại hơn…. Khoa Học :))

Read that article: The Big and the Small – Chờ đợi nhưng tại sao (waitbutwhy.com)

Thế giới từ góc nhìn của vũ trụ cho đến thế giới nguyên tử và lượng tử có một tính “không” biểu hiện

Ở thời điểm hiện tại tôi vẫn “đắm chìm trong dòng sông cảm xúc” và phải dùng “chánh niệm” để đạt được nhận thức về “góc nhìn” đó!

Tôi chưa dám nói về sự “giác ngộ” vì việc quan tâm và tò mò đến thế giới quan của Phật giáo không có nghĩa tôi muốn xuất gia đi tu hay trở thành một Phật tử tu tập

Tất cả đơn giản là cuộc truy cầu tri thức

Thậm trí tôi cũng chưa từng thiền định nhưng sẽ thử nó trong tương lai gần. Mọi thứ tôi thấy vẫn còn có chút mơ hồ chưa sáng tỏ như Neo vừa mới uống viên thuốc có tên Phật giáo và choàng tỉnh thoát khỏi ma trận. ( Đừng hiểu nhầm “tôi” không phải là Chosen One hay đấng cứu thế gi đó đâu nhé )

Cái tôi thấy thú vị là thế giới quan này rất sâu sắc và có tác dụng tích cực trong cuộc sống

Nếu có Duyên biết đâu bạn có thể tìm hiểu về góc nhìn Phật giáo qua bài viết này như cách nhân duyên đã đưa bạn đến và đang đọc dòng chữ này vậy

Update

Gần đây có một “sự khó chịu” về sự thay đổi thế giới quan xuất hiện

Tôi sẽ làm gì với tư tưởng mới này? nó có “thật” hay không hay lại là một trò đùa của tâm trí?

Tôi có đang “hiểu sai” và sinh “tà kiến” hay không?

Đạo Phật do Phật tổ Thích Ca chứng ngộ, vậy chắc chắn nó “vô thường” vì Phật cũng là bản thể vô thường, vậy niết bàn phải chăng cũng chỉ là một “ảo tưởng” khác?!?

Nói chung có một vạn câu hỏi nảy sinh và có lẽ cần thời gian và trí tuệ để có thể trả lời hết

Và tôi nghĩ thế này:

Việc nhận ra mọi sự “vô thường” cái “vô ngã” và tính “không” cần một cách tiếp cận trí tuệ và cẩn thận, đừng để mắc tà kiến sai lầm rơi vào “hư vô chủ nghĩa” điều mà sẽ đưa ta đến cái kết luận mọi thứ trên đời đều là giả và vô nghĩa làm ta đánh mất hết ý nghĩa cuộc sống cũng như làm suy đồi thế giới quan

Vì mọi thứ là “không”, là ảo ảnh của “thân tâm” tất cả là “không”, nhưng “không” không có nghĩa là hư vô vì trong không CÓ mọi thứ và mọi thứ là không, và vì “cái ta” vẫn gắn chặt với ngũ uẩn thân tâm trí, nên tuệ giác ta lĩnh hội được phải mang ra ứng dụng vào cuộc sống

Nói cách khác

Việc có đc một góc nhìn mới về bản chất thế giới không phải để thoát ly hoàn toàn thế giới hiện tại ( thế giới “vô thường” dựng lên bởi tâm trí, ngũ uẩn ) mà dùng nó như một công cụ để sống tốt hơn, để diệt khổ, việc có tuệ giác ngộ giúp ta có “con mắt” và “trí tuệ” nhìn thấu suốt mọi sự tìm chân lý tránh vô minh, tìm ra cách làm đúng đắn trong mọi việc

Từ đó làm sâu sắc hơn thế giới quan, nhân sinh quan và phẩm giá con người. Giúp “ta” “sống” một cuộc sống tốt đẹp hơn

Link:

1- Thế giới theo quan điểm Phật Giáo – Phật Học Ứng Dụng – THƯ VIỆN HOA SEN (thuvienhoasen.org)

Theo Kinh Giáo Thọ Ca Chiên Diên, Đức Phật đã nói với tôn giả Ca Diếp: “Nầy ông Ca Diếp! ‘Là’ là một cực đoan, N’không là’ cũng là một cực đoan. Cái được coi là trung đạo thì không thể sờ thấy, không thể so sánh, không nơi chốn, không hiển hiện, không thể giải thích. Ông Ca Diếp, đó chính là trung đạo. Trung đạo là sự cảm nhận Thực Tại.” Những sự cực đoan trở thành những con đường không có lối thoát của chủ thuyết vĩnh hằng và đoạn diệt. Có những người chỉ bám víu vào ‘vô,’ hoặc có những người chỉ bám víu vào ‘hữu.’ Đức Phật đã xử dụng thuyết Trung Đạo để vạch ra chân lý mọi sự vật trên thế giới nầy không phải là ‘hữu’ tuyệt đối, mà cũng không phải là ‘vô’ tuyệt đối. Kỳ thật, mọi vật đều có sanh có diệt, tạo nên sự chuyển hóa liên tục không ngừng. Trung Đạo có nghĩa là thực tại siêu việt đối với những cách lý luận nhị phân của lý trí và thực tại không thể bị hạn định hoặc đóng khung trong những lựa chọn ‘là,’ ‘không là.’

“Này các tỉ-khâu, có hai điều thái quá, người xuất gia không nên theo. Thế nào là hai? một là mê đắm dục lạc, hạ liệt, phàm phu, không xứng Thánh hạnh, không thiệt lợi đạo. Hai là tu khổ hạnh, khổ đau, không xứng Thánh hạnh, không thiệt lợi đạo. Này các tỉ-khâu, chính nhờ từ bỏ hai điều thái quá này, Như Lai giác ngộ trung đạo, con đường đem đến pháp nhãn, trí huệ đưa lại an tịnh, thượng trí, chứng Niết-bàn.Này các tỉ-khâu, Trung đạo do Như Lai giác ngộ, đem đến pháp nhãn, trí huệ đưa lại an tịnh, thượng trí, giác ngộ, Niết-bàn là gì? Chính là Bát chính đạo: chính kiến, chính tư duy, chính ngữ, chính nghiệp, chính mạng, chính tinh tấn, chính niệm, chính định”.

Trung đạo cũng được dùng để chỉ giáo pháp Trung quán của Long Thụ, là môn phái không chấp nhận một đối cực nào của mọi phân cực. Trung đạo ở đây là thái độ từ bỏ hai quan điểm cực đoan thế giới là trường tồn hay hoại diệt, thế giới là có (hữu) hay không có (vô). Trong Trung quán tông, Trung đạo được trình bày rõ nhất với quan điểm tám phủ nhận (bát bất) của Long Thụ:Không diệt, không sinh, không đứt đoạn, không thường còn, không là một, không đa dạng, không đến, không đi

Trong Duy thức tông, Trung đạo được hiểu là vừa không xem sự vật tồn tại thật sự (vì sự vật thực tế không hề tồn tại), vừa cũng không cho rằng sự vật không hề có (vì sự vật tồn tại đối với ảo giác tâm lý). Theo Thiên Thai tông, Trung đạo là sự nhận thức rằng, mọi sự vật trống rỗng, chúng không có một thật thể độc lập, nhưng đồng thời chúng có giá trị nhất định, tạm thời—vì chúng là những trình hiện nên có một thọ mệnh nhất định. Sự tổng hợp giữa tính Không (sa. śūnyatā) và thế giới hiện tượng chính là Trung đạo đích thật—theo tông này.