Tôi là gì? Tôi là ai?

Chắc thường thì mọi người sẽ nghĩ tôi là tôi chứ là ai, hay “tao” thấy “mày” hâm hâm rồi đấy :))!

hoặc có những người sẽ nghĩ “omg! đó là câu hỏi mà tôi đau đáu bấy lâu nay?”

Cái tôi, hay cái “bản ngã”, cái đã quá quen thuộc với tâm trí chúng ta là cái ta sở hữu và phân biệt với người khác,

Như bất kỳ ai tôi cũng từng có cái tôi lớn, thời thanh niên cũng từng mong muốn khẳng định cái tôi của mình, tôi giỏi hơn, tôi khác biệt,…

Người ta nói “Lý luận là trò chơi của ngôn ngữ”, Ngay cả bây giờ tôi vẫn dùng từ “tôi” trong các blog của mình nhưng rồi trong hành trình đi tìm lý tưởng sống đưa tôi đến giáo lý của Phật giáo và nó mang lại cho tôi một gócnhìn về cái tôi:

“Cái tôi về bản chất là một ảo tưởng, sự thật là vô ngã hay không hề có cái tôi, “cái tôi” ta lầm tưởng là kết hợp của Ngũ Uẩn do Duyên Khởi tạo thành, “cái tôi” là vô thường và có tính “không””

Vì vậy có thể nói không có “cái tôi” thực sự, Tôi và bạn thật ra là một và thuộc về tính “không”!

Nhưng đừng nên đi đến kết luận và nhầm tưởng bạn chỉ đơn thuần là ảo ảnh của tâm trí ( Vì “không” là “tính không” khác với “không có gì, hư vô” ) , Bạn “có” hiện hữu nhưng có tính “không”, sự cấu thành nên bạn và tôi là như nhau ( có thể hiểu là đều tạo thành từ các hạt lượng tử ) do cơ duyên ( tổ hợp nhiều nguyên nhân ) mà tụ hợp tạo thành và đang trong vô thường luân hồi ( sự thay đổi sinh diệt chuyển hoá không ngừng )

Mọi sự vật hiện tượng sẽ có ý nghĩa riêng theo hệ quy chiếu tâm ta đặt cho, Cái tôi và bản ngã quá vô thường và nhỏ bé xét theo “cái nhìn lớn” hãy tưởng tượng toàn bộ sự sinh diệt của cả trái đất cũng chỉ là một hạt cát, một chớp mắt của vũ trụ chứ đừng nói đến cuộc đời của con người. Nhưng theo “cái nhìn nhỏ” cuộc đời này là tất cả những gì bạn có và có thể làm

Việc hiểu về cái tôi theo góc nhìn này giúp tôi không quá bám chấp và phóng đại cái tôi

Và vì cuộc sống giả tạm, vô thường, hữu hạn nhưng không có nghĩa là không đáng sống và phó mặc cuộc sống, Theo quan điểm của đức Phật được làm con người là một sự kỳ diệu và ta hãy sống thật hết mình từng ngày, để tốt hơn chính ta của hôm qua!

Ðối với Sư, tính Không có nghĩa là thiếu vắng một cái ngã, không phải là không tồn tại như là một trình hiện (có thể nói: »Tất cả là ảo ảnh không thật, nhưng có những trình hiện có vẻ như thật«). Vì vậy, nếu nói sự vật có hay không là đặt vấn đề sai. Sự thật nằm ở giữa hai khái niệm đó, trong tính Không (s: śūnyatā). Thế giới hiện tượng cũng phải được xem là sự thật, ta gọi là sự thật tương đối (Chân lí quy ước; s: saṃvṛti-satya), nó không phải là sự thật cuối cùng (Chân lí tuyệt đối; s: paramārtha-satya). Trong chân lí quy ước thì thế giới này và cả Phật pháp có giá trị. Theo chân lí tuyệt đối, tất cả chúng đều không có thật, chúng chỉ là những trình hiện. Theo Sư, thế giới hiện tượng xuất phát từ cái dụng thiên hình vạn trạng (đa dạng; s: prapañca), trên đó con người »tưởng tượng« ra và từ đó ta tưởng nhầm có một thế giới bên ngoài thật. Trong chân lí tuyệt đối thì lại vắng bóng cái dụng thiên hình vạn trạng đó. Ðộc lập với cái dụng đó thì chính là Niết-bàn. Trong Niết-bàn vắng hẳn sự đa nguyên của vạn sự, không còn quy luật nhân duyên nữa. Niết-bàn là niềm an vui tự tại (s: sahajānanda). Ðối với Long Thụ – như kinh Bát-nhã chỉ rõ – Niết-bàn và thế giới hiện tượng thực tế chỉ là một, là hai mặt của một cái duy nhất. Niết-bàn không phải là một pháp có thể chứng đắc được; chỉ cần nhận chân ra thể tính của mọi sự, trong đó cái dụng thiên hình vạn trạng nọ trở lại yên nghỉ, đó là Niết-bàn.

Sư Long Thụ

Trích dẫn:

“Tất cả các sự vật hiện tượng đều do duyên mà hình thành; do đó gọi là không (tức không thực thể) hay cũng còn gọi là giả danh hay trung đạo”

Tính Không Trong Đạo Phật – Tánh Không – THƯ VIỆN HOA SEN (thuvienhoasen.org)

“…Vừa không xem sự vật tồn tại thật sự (vì sự vật thật tế không hề tồn tại), vừa cũng không cho rằng sự vật không hề có (vì sự vật tồn tại đối với ảo giác tâm lí). Theo Thiên Thai tông, Trung đạo là sự nhận thức rằng, mọi sự vật trống rỗng, chúng không có một thật thể độc lập, nhưng đồng thời chúng có giá trị nhất định, tạm thời – vì chúng là những trình hiện nên có một thọ mệnh nhất định. Sự tổng hợp giữa tính Không (s: śūnyatā) và thế giới hiện tượng chính là Trung đạo đích thật – theo tông này.”

Tìm kiếm (thuvienhoasen.org)

Theo cách giải thích của riêng họ, chính bản thân họ là những robot sinh học không có tư duy, đang phải chịu ảo tưởng của tâm trí – một loại phản chiếu nhân tạo từ chức năng cơ-sinh học của bộ não.

“Khoa học” – một tôn giáo mới? – Trí Thức VN (trithucvn.org)

Đời sống của mỗi chúng ta thực chất chỉ là một chuỗi hiện tượng thân tâm, một chuỗi hiện tượng đã hoạt động vô lượng kiếp trước khi ta sinh ra và sẽ còn tiếp tục vô tận sau khi ta chết đi. Ngũ uẩn này, dù riêng lẻ từng uẩn hay hợp chung lại, chúng không hề tạo thành một cái gì gọi là cái ta. Ngoài chúng ra, không còn cái gì được gọi là một thể của cái ta độc lập với chúng, để ta tạm gọi nó là cái ta. Lòng tin có một cái ta, có một nhân cách độc lập chỉ là một ảo tưởng.

Joseph Goldstein cũng viết:”Cái mà chúng ta gọi là cái ta chỉ là ngũ uẩn đang hiện hành vô chủ.”

Wikipedia

“Cái Tôi”, còn gọi là “cá nhân” hay “thực thể”. Theo triết học pháp Bụt, “Cái Tôi” đó chỉ là một sự gắn ghép (kết hợp) các năng lượng vật chất và tinh thần trong một điều kiện nào đó, tạo ra một sự biến đổi liên tục. Sự gắn ghép ấy được thực hiện bởi năm yếu tố ràng buộc, “năm nhóm” (Pãncakkhandha; Ngũ Uẩn). Trong kinh Samyutta-Nikãya Bụt định nghĩa: “Hỡi các Tỳ kheo, Dukkha là gì vậy? Đó chính là sự tham ái và chấp thủ năm yếu tố ràng buộc cấu thành con người và thế giới”.
Năm yếu tố ràng buộc đó gồm: thứ nhất là mối ràng buộc vật chất (Rũpakkhandha; Sắc Uẩn). Thế giới vật chất gồm bốn yếu tố lớn: rắn, lỏng, sức nóng và chuyển  động. Bốn yếu tố này cùng với các cơ quan tương ứng trong cơ thể, mà thông qua các cơ quan ấy con người có thể cảm thụ, nhận biết và có khả năng kiểm soát và phát triển cảm thụ và nhận biết. Tất cả những cái đó hình thành cái gọi là “mối ràng buộc vật chất”. Mối ràng buộc vật chất này bao gồm toàn bộ các lĩnh vực vật chất bên trong và bên ngoài cơ thể con người liên quan với nhau trong quá trình cảm thụ và nhận biết.
Thứ hai là mối ràng buộc cảm giác (Vedanãkkhandha; Thụ Uẩn). Mối ràng buộc này tạo ra ba loại cảm giác: thích, không thích và chẳng thích cũng chẳng không thích (trung tính). Tuỳ theo cơ quan thể xác hoặc tâm thức nào liên hệ với thế giới bên ngoài gây ra cảm thụ, ta chia ra sáu loại cảm thụ: cảm giác nảy sinh lúc nhìn, cảm giác nảy sinh lúc nghe, cảm giác nảy sinh lúc ngửi, cảm giác nảy sinh lúc nếm, cảm giác nảy sinh lúc sờ chạm, cảm giác nảy sinh lúc nghĩ tính. Duy thức học gọi các cảm thụ ấy là những tâm sở.
Thứ ba là mối ràng buộc về sự nhận biết, nghĩ tính (Sannãkkhandha; Tưởng Uẩn). Đó là mối ràng buộc mô tả sự nhận biết khi gặp đối tượng vật chất hoặc tâm thức nhờ có sự liên tưởng những ký ức đã tích luỹ từ trước.
Thứ tư là mối ràng buộc đặc trưng cho hành vi của ý thức, sự thôi thúc từ bên trong dẫn tới hành động, hay là ý chí (Samkhãrakkhandha; Hành Uẩn). Đó là động cơ hành động tạo ra hiệu quả (Kamma; nghiệp quả). Hiệu quả có thể là lành, hay dữ, hay chẳng lành cũng chẳng dữ (trung tính), tuỳ theo hành động xuất phát từ hành vi của ý thức hoặc tốt, hoặc xấu, hoặc trung tính. Người ta đã liệt kê được mười hai loại hành vi ý thức có thể tạo ra hiệu quả, thể hiện qua mười hai hình thái tinh thần sau đây: chú ý, ý chí, quyết tâm, tin cậy, trí năng, nghị lực, ham muốn, căm ghét, ngu dốt, khoe khoang, dính mắc “Cái Tôi”, gom tâm (tập trung tâm trí).
Mối ràng buộc thứ năm là sự để ý một đối tượng bất kỳ nào đó khi đối tượng ấy xuất hiện trong mối tương quan với chủ thể, hoặc xuất hiện một mình trong ý thức (độc đầu ý thức), gọi là “mối ràng buộc để ý” (Vinnãnakkhandha; Thức Uẩn). Tuỳ theo điều kiện của đối tượng bên ngoài hay bên trong làm nảy sinh sự để ý này ta có thể chia ra sáu loại hoạt động của mối ràng buộc để ý sau đây: để ý nhìn, để ý nghe, để ý ngửi, để ý nếm, để ý sờ chạm, để ý diễn biến trong tâm thức.
Bụt chỉ rõ rằng sự có mặt của mối ràng buộc thứ năm (tạm ký hiệu bằng chữ “Y”) phụ thuộc một trong bốn mối ràng buộc nói trên (sắc, thụ, tưởng, hành uẩn) (tạm ký hiệu bằng chữ “X”) theo ba kiểu thức sau đây:
1. “X” là phương tiện cho sự có mặt của “Y”.2. “X” là đối tượng cho sự có mặt của “Y”.3. “X” là chỗ dựa cho sự có mặt của “Y”.

Trong khi tìm kiếm hưởng thụ các mối ràng buộc có thể nảy ra, lớn lên và mở rộng.
Mối ràng buộc thứ nhất chỉ mang tính vật lý và  đại diện cho vật chất. Còn bốn mối ràng buộc còn lại có liên quan tới tâm trí nên mang tính tâm lý. Như vậy năm mối ràng buộc này bao chùm hết thảy mọi sự vật trong vũ trụ.
Như trên đã nói, cái mà ta quen gọi là “Cái Tôi” (Ngã), hoặc “cá nhân”, hoặc “thực thể” thật ra chỉ là một nhãn hiệu, hoặc một cái tên gọi gán cho sự gắn ghép nhất thời của năm yếu tố này mà thôi. Chính năm yếu tố này lại luôn luôn biến đổi và sự gắn ghép giữa chúng cũng không cố định chút nào, cho nên “Cái Tôi” là vô thường (chẳng còn mãi). Bụt dạy rằng: “Tất cả là vô thường (chẳng còn mãi). Còn dính mắc vào “thường” là khổ đau.” 

Ở khoảnh khắc (sát na) này năm yếu tố và sự gắn ghép giữa chúng không còn giữ nguyên như ở khoảnh khắc liền ngay trước. Do vậy vũ trụ là một dòng chảy liên tục và không còn mãi (vô thường), tuân theo quy luật “chuỗi nhân quả”: Sự vật hiện đang có mặt là kết quả của những sự vật có trước, đồng thời là nguyên nhân cho sự có mặt của các sự vật có sau. Đằng sau dòng chảy này chẳng có cái gì có bản chất không thay đổi (bất biến), chẳng có cái gì có thể thực sự được coi là “Cái Tôi” còn mãi (hay linh hồn vĩnh cửu) cả.
Nhưng khi năm yếu tố vật chất và tâm trí cùng hoạt động lệ thuộc nhau trong một mối quan hệ gắn ghép, hình thành một một cơ cấu tâm – sinh – lý hoặc một thực thể nhất thời và tương đối thì dễ đưa đến sự nhận lầm, thậm chí dính mắc với ý niệm cho rằng có thật “Cái Tôi”, hoặc “Cá Nhân” (Sakkaya; Ngã Chấp). Từ đó đưa tới những hành vi muốn tạo nghiệp. Tóm lại, sự dính mắc với ý niệm lầm lẫn rằng thật sự có mặt “Cái Tôi” đã đưa đến nỗi khó chịu trong lòng (Dukkha; Khổ) màcon người phải chịu đựng.

Ở đây cũng cần nhắc lại rằng chỉ nỗi khó chịu hình thành bởi năm yếu tố luôn luôn biến đổi do nghiệp lực chuyển hoá mà thôi, chứ tuyệt nhiên không thể tìm thấy “Cái Tôi” nào cả. Cũng vậy, đằng sau sự suy nghĩ không có người nghĩ, hoặc “Cái Tôi” nghĩ, bởi vì sự suy nghĩ và người nghĩ chỉ là một và luôn luôn biến đổi. Từ  những nhận thức đó ta thấy vũ trụ quan của pháp Bụt hoàn toàn trái ngược với ý tưởng mà Descartes nêu ra trong câu nói sau đây: “Tôi tư duy (suy nghĩ), vậylà tôi tồn tại” (Je pense, donc je suis).

Link:

28. Vô Thường – Vô Ngã – Phật Học Cơ Bản – THƯ VIỆN HOA SEN (thuvienhoasen.org)

Vì sự kiện tri thức có nhiều đối tượng thuộc các thể loại khác nhau, theo đó vô minh tiên khởi cũng có hai thể loại: một thứ tạo dựng ra sự hiện hữu tự tại của cá thể con người, và một thứ tạo dựng ra sự hiện hữu tự tại của các hiện tượng khác. Thể loại vô minh thứ nhất gọi là tri thức tạo dựng ra cái tôi (cái ngã) của con người và thể loại thứ hai gọi là tri thức tạo dựng ra cái tôi (cái ngã) của mọi hiện tượng(chúng ta không có cái tôi nào cả thế nhưng lại cứ tạo ra cho mình một “cái tôi”: đó là thể loại vô minh thứ nhất; mọi hiện tượng không thật, thế nhưng chúng ta cứ nhất định xem chúng là “thật”: đó là thể loại vô minh thứ hai).

Khái niệm về cái tôi (cái ngã) của con người cũng lại được phân chia thành hai thể loại khác nhau: thể loại thứ nhất là khi chúng ta nhìn vào người khác như là một đối tượng của tâm thức mình (hình dung ra cái tôi của các người khác qua sự giao tiếp với họ) và xem người ấy hiện hữu một cách tự tại. Thể loại thứ hai là khi đối tượng của sự nhận thức chính là mình, cái tôi (cái ngã) của chính mình, và xem nó hiện hữu một cách tự tại. Thể loại thứ hai này (nhìn vào cái tôi của mình) được gọi là quan điểm sai lầm về một sự thu nạp tạm thời (tức nắm bắt một cái tôi mang tính cách cá thể của mình). Trong tiết thơ trích dẫn trên đây, Long Thụ cho biết rằng quan điểm sai lầm mang tính cách tự tại về sự thu nạp một cái tôi cá thể, tức là căn nguyên trói buộc của sự hiện hữu mang tính cách chu kỳ, chính là ý niệm cho rằng cái tôi của mình hiện hữu một cách tự tại, thế nhưng nó chỉ có thể hiện ra nhờ vào các cấu hợp tâm thần và thể xác – tức là tâm thức và thân xác của mình, v.v… – là những thứ chỉ mang bản chất phân hủy (tan rã / hư hoại / suy thoái / vô thường) của một cá thể, và mình thì lại cứ xem các thứ ấy tự chúng hiện hữu một cách thật sự. Chính vì thế mà sự nắm bắt của cái tôi về các hiện tượng sẽ tác động xuyên qua một cơ sở mang tầm nhìn sai lầm nội tại (nắm cái tôi cá thể) và hình dung con người hiện hữu một cách rất thật, dù rằng cả hai thể loại tri thức ấy (nhận biết cái tôi cá thể và cái tôi của mọi hiện tượng) cũng đều là vô minh như nhau, đã khiến mang lại sự nhận định sai lầm về sự hiện hữu nội tại [của các hiện tượng ấy] (câu này trong nguyên bản cũng rất khúc triết, nếu không muốn nói là “rắc rối”, ý nghĩa tóm lược như sau: mình quen nhìn vào cái tôi của mình là thật, nên khi nhìn vào các hiện tượng “xuyên qua cái tôi ấy” thì mình cũng xem chúng là thật, dù rằng cả hai thể loại tri thức nhận biết ấy đều là sai lầm). Ngoài ra còn một thể loại nắm bắt nội tại khác nữa, thô thiển hơn nhiều, đó là sự nắm bắt cái tôi (cái ngã) của các hiện tượng, qua cách nắm bắt này con người được nhận biết một cách sai lầm là hàm chứa một sự hiện hữu mang tính cách thực thể, tức có nghĩa là mang tính cách tự chủ (autosuffisant/self-sufficient/tự lập, tự hiện hữu, không lệ thuộc vào các điều kiện khác. Câu này cũng rất tế nhị: khi mình nhìn vào một người khác thì người này cũng chỉ là một hiện tượng cấu hợp như mọi hiện tượng khác, thế nhưng mình lại “tách” người này ra khỏi bối cảnh của các hiện tượng chung quanh và gán cho người này một sự hiện hữu tự chủ và nội tại).

(vô minh của mình khiến mình xem cái tôi của mình hiện hữu thật, vô minh của một người khác khiến người này cũng xem cái tôi của mình hiện hữu thật, sự giao tiếp giữa hai người sẽ khiến cho vô minh nhân lên gấp đôi, và khổ đau tạo ra từ “tổng thể” vô minh ấy cũng sẽ nhân lên gấp đôi. Nếu sự giao tiếp trong xã hội càng nhiều thì khổ đau cũng sẽ theo đó mà nhân lên một cách tương xứng và sẽ trở nên vô cùng phức tạp. Ngoài các sự giao tiếp đó nếu chúng ta lại còn nhìn thấy thêm “cái tôi” của mọi hiện tượng – chẳng hạn như của cải, danh vọng, các xúc cảm yêu thương, thù hận, sợ hãi, lo buồn, thèm khát… – là thật, thì khổ đau sẽ còn mênh mông hơn nhiều)

1- Thế giới theo quan điểm Phật Giáo – Phật Học Ứng Dụng – THƯ VIỆN HOA SEN (thuvienhoasen.org)

Theo Kinh Giáo Thọ Ca Chiên Diên, Đức Phật đã nói với tôn giả Ca Diếp: “Nầy ông Ca Diếp! ‘Là’ là một cực đoan, N’không là’ cũng là một cực đoan. Cái được coi là trung đạo thì không thể sờ thấy, không thể so sánh, không nơi chốn, không hiển hiện, không thể giải thích. Ông Ca Diếp, đó chính là trung đạo. Trung đạo là sự cảm nhận Thực Tại.” Những sự cực đoan trở thành những con đường không có lối thoát của chủ thuyết vĩnh hằng và đoạn diệt. Có những người chỉ bám víu vào ‘vô,’ hoặc có những người chỉ bám víu vào ‘hữu.’ Đức Phật đã xử dụng thuyết Trung Đạo để vạch ra chân lý mọi sự vật trên thế giới nầy không phải là ‘hữu’ tuyệt đối, mà cũng không phải là ‘vô’ tuyệt đối. Kỳ thật, mọi vật đều có sanh có diệt, tạo nên sự chuyển hóa liên tục không ngừng. Trung Đạo có nghĩa là thực tại siêu việt đối với những cách lý luận nhị phân của lý trí và thực tại không thể bị hạn định hoặc đóng khung trong những lựa chọn ‘là,’ ‘không là.’

Tự Tính, “Chỉ cái tính nằm sau mọi hiện tượng, cái ngã. Theo quan điểm Ðại thừa, tất cả mọi sự đều không có tự tính (s: asvabhāva), vô ngã, tức là không có một cái gì chắc thật, riêng biệt đứng đằng sau các trình hiện. Ðiều đó không có nghĩa sự vật không có thật, chúng hiện diện nhưng chúng chỉ là dạng xuất hiện của tính Không, tự tính là tính Không (自性空; Tự tính không; s: svabhāva-śūnyatā). Ðây là quan điểm trung tâm của tư tưởng Bát-nhã ba-la-mật-đa (s: prajñāpāramitā) và Trung quán (s: madhyamaka).

Sáng nay, tôi đột nhiên cảm thấy mình nên ghi ra vài suy nghĩ mà mình đã có từ lâu, có thể nó giúp tôi dễ dàng hơn trong việc hệ thống lại các ý tưởng, hơi có tí triết lý, trong đầu mình

Tôi có tham vọng tìm hiểu sâu hơn về các suy nghĩ này nên viết ra có thể sẽ là một cách để bắt đầu trong quá trình đi tìm câu trả lời, tôi sẽ chỉ ghi nhanh nó ra theo cách mà các suy nghĩ xuất hiện trong đầu

Tôi nghĩ về bản chất mọi thứ trong cuộc sống là “không”, tất cả mọi thứ ta từng biết là các Ý niệm, Khái niệm và chuẩn mực do bộ óc và tâm trí con người sáng tạo ra và kế thừa qua các thế hệ

Vậy ta là gì? có thật là có ta không? tâm trí ta có phải là tâm trí, lý trí tự do tuyệt đối không?

Trong cái “không”, cái hư vô có cái gì không? Câu trả lời là Có vì “Không có gì” cũng là một “cái gì đó”, Không và Có là những ý niệm ( Thiền sư Thích Nhất Hạnh )

Ứng với lý thuyết của Kinh Dịch bàn về sự sự cân bằng thông qua đối kháng và thay đổi (chuyển dịch) là Thái Cực ( cái hư vô ) ⇒ Lưỡng Nghi ( Âm-dương )

Mọi sự vật sự việc đều có hai mặt tồn tại trong cùng chủ thể và

Mọi thứ luôn vận động và phát triển thay đổi không ngừng, không có điều gì là mãi mãi không thay đổi chỉ có là nhanh hay chậm, sự thay đổi có thể theo chu kỳ ( các mùa xuân hạ thu đông, tứ tượng )

Tiêu cực hay Tích cực ( Đúng, Sai ) là khái niệm do mình tự tạo nên trong tâm trí. Nó có thể chỉ là A và B, Âm và Dương hay bất cứ tên gọi ta gán cho

Mục tiêu ta đạt đến là sự cân bằng chứ không phải sự tuyệt đối tức Vừa = Đủ nếu Quá = Không tốt ⇒ ko truy cầu đến cực hạn mọi thứ vì vật cực tất phản

vd Mặt tiêu cực ( suy nghĩ, tính cách..vv ) là điều cần thiết và là nguyên nhân tạo của cái tích cực và ngược lại

Cái ta cần là tạo ra sự Cân bằng, và sự cân bằng này cũng là cái ta phải tự định nghĩa cho mình

Hãy luôn suy nghĩ về sự tiêu cực như một yếu tố làm nên cái tích cực và ngược lại cái tích cực có thể đã chứa đựng và dẫn đến sự tiêu cực

hay nói cách khác nếu muốn một điều (vd tích cực ) ta hãy nghĩ đến trường hợp mặt trái của nó ( vd tiêu cực ) lại là một trong các giải pháp giúp tạo ra điều đó

Vì vậy hãy luôn học tập và phát triển không ngừng

Vậy nếu mọi thứ đều là hư vô ngay cả khi “đúng”, “sai”, “tốt”, “xấu”, “vô nghĩa”, “thất bại”, “ý nghĩa”, “đáng sống”, không gì hơn, cũng chỉ là những ý niệm của tâm trí chúng ta tạo ra, vậy nó có dẫn ta đến sự chán trường yếm thế hay không?

Hay ngay cả khái niệm ta,thật sự có ta? hay cái tôi không? ( triết lý vô ngã )

Phải chăng con người bị ràng buộc vào Thân – Tâm – Trí nên trải nghiệm “nỗi khổ” hay Dukkha là điều tất yếu theo giáo lý của đạo Phật!?

Và cuối cùng trong “thực tại hữ hạn mà ta đang sống” ta làm gì để “hạnh phúc và sống một cuộc đời có ý nghĩa”?

“Hãy luôn thành thật với bản thân”

Okey! nghe có vẻ đơn giản nhưng giờ tôi có cách nghĩ khác về câu nói này

Hình như không phải lúc nào ta cũng thành thật với bản thân!?

Nhiều khi ta đang tự lừa dối bản thân nhưng sự lừa dối này được lồng trong một sự lừa dối khác, sự nguỵ biện, một kiểu inception lừa dối, và ta rât khó để nhận ra!

Ví dụ nhé ta không tập thể dục nhưng ta nói mình ko có thời gian, thực ra là ta đã không lựa chọn việc tập thể dục vì nếu muốn ta có thể tạo ra thời gian cho nó.

Ta hút một điếu thuốc ta biết nó chả tốt gì nhưng ta tạo ra lý do nó sẽ giảm căng thẳng ngay lập tức hoặc ta thèm cảm giác mà nicotine mang lại.

Khi làm việc ta chọn nhưng việc ta thích ( dễ dàng hơn ), chứ không phải việc ta cần ( khó hơn, cần kỷ luật và năng lượng mạnh hơn ) và ta vẫn đánh dấu nó là một ngày làm việc năng xuất ( tuy là vẫn tốt hơn là ta không làm gì cả )

Ta không nên quá khắt khe nhưng hãy thành thật hơn nữa với chính mình

Work Hard and Enjoy Life!

“Chúng ta đều là những tảng băng cô độc và lạnh lẽo đang tan chảy trước ngọn gió của thời gian”